Thứ Ba, 28 tháng 12, 2010

HOÀI VÂN VÀ ĐÃI TRĂNG

Đọc thơ Nguyễn Lâm Cúc, ta thường bị ám ảnh có khi chỉ bởi một câu thơ sắc sảo, khúc triết, đau đáu, hay nói cách khác như một bạn thơ “câu thơ của Cúc như đóng đinh vào tim độc giả”. Thơ chị thường rất ngắn gọn, đau buồn, triết lý như chính cuộc đời của chị….

Lần đầu tôi đọc thơ chị với bài “Không hẹn hò đời hóa hoang vu”, và choáng ngợp với khẩu khí rất nam nhi hảo hán của chị:

Hôm nay buồn lại bày tiệc gọi trăng
Lại mời rượu
Lại bưng sông ra uống
Đặt lên mâm những quả tình nẫu chín
Hái từ vườn ấp ủ trăm năm

Nào,
Cạn ly nhé trăng!
Chớ có chau mày mà xôn xao vằng vặc
Mây bạc đầu còn lang thang như hành khách
Dưới vòm trời nơi nao chẳng cô đơn?

Bạn đã thấy cảnh bông cúc đại ngàn “bày tiệc gọi trăng” tuyệt vời chưa? Cúc cạn ly với vầng trăng, uống cả một dòng sông rượu, ăn cả một mâm quả tình chín nẫu từ vườn trăm năm và… cùng ngắm trời đất bao la với làn mây trắng lang thang đơn côi dưới vòm trời. Cúc buồn, nhưng vẫn khuyên nhủ vầng trăng của mình “chớ có chau mày mà xôn xao vằng vặc”:

Say thì say, nhưng đừng khóc
Dẫu thế nao vẫn cứ ngả nghiêng cười.

Nguyễn Lâm Cúc có duyên với trăng, cũng như Hàn thi sĩ ngày xưa vậy. Chị có nhiều bài thơ hay về trăng, mà bài nào cũng buồn. Đây là một bài thơ về trăng mà tôi đã năn nỉ chị làm nhân dịp Trung thu năm ngoái.

TRĂNG KHÓC
(Tặng Hoài Vân)

Từ dạo ta biết trăng ngà ngọc
Mỗi đêm đều mơ rằm
Đêm qua rằm, vầng trăng đã khóc!
Mây ơi Mây cho ta mượn chéo khăn?

Sau khi chị đưa “Trăng khóc” lên blog, các bạn thơ đã họa lại mấy bài thơ rất thú vị mà tôi cũng muốn đưa vào đây để mọi người nhâm nhi:

Mây đã che, để cho vầng trăng khóc,
Trời lạnh rồi, mây cũng thành mưa thôi,
Tắm mưa đi, ôi trăng rằm ngà ngọc,
Giữa đêm dài, sao trăng khóc trăng ơi!

(Nguyễn Vạn An)

Trăng khóc buồn đâu phải mây mưa
Mà bởi gió phụ tình bội bạc
Ghen ghét ngàn sao đã cùng trăng hoan lạc
Mang mây về để mưa gió cũng về theo.

(Đoàn Văn Nghiêu)

Đọc thơ Cúc luôn thấy một cảm giác cô đơn và bất hạnh. “Mồ côi” là một bài thơ như thế, bài thơ chân thực và buồn đau đến nao lòng:

Vinh hạnh được là người
Tôi mang nỗi nhục không thành người!

Lột bỏ mọi vỏ bọc
Trầy trụa một hồn tôi!

Tôi ôm hồn ngồi khóc
Chợt hiểu hồn mồ côi!

Và đây là lời trần tình của chị về bài “Mồ côi” trên blog:

“Về bài Mồ côi, Cúc biết nó khó hiểu

Vinh hạnh được là người
Tôi mang nỗi nhục không thành người!

Phải, được làm một con người là điều vinh hạnh. Lại là một con người may mắn có sức khoẻ, không khiếm khuyết càng may mắn! Và, bạn biết trong mỗi con người của chúng ta “ đây là tự chúng ta nhìn, mà tự chúng ta nhìn thì có gì che đậy tâm hồn chúng ta được không?” Chúng ta có thể mang muôn vẻ mặt đi trong cuộc đời, nhưng khi đối diên với chính ta thì ...một lần dũng cảm thừa nhận : “Tôi, phần ngợm nhiều hơn người!”

Bỏ mọi lớp vỏ bọc
Trầy trụa một hồn tôi!

Bạn ơi, nỗi cô đơn ai cũng có. Đôi khi cô đơn đến đặc quánh như thể thế gian rộng vô cùng và chỉ có mỗi mình ta. Và chung quanh ta chỉ hiện diện những vật chất hữu hình và vô hình. Có bọc được tâm hồn ta bằng vàng, bằng vải, bằng danh vọng, địa vị được không? Tôi tin là không, nhưng ta vẫn bọc nó bằng những thứ ấy. Trong khi điều mà tâm hồn cần là yêu thương, là một nửa của đời người. Và....tôi đã gửi vào bài thơ nỗi niềm ấy đó
Dòng Sông ơi! Một nửa ơi, nếu bạn đã nhìn thấy tôi, đã nhận ra tôi xin bạn hãy ở lại cùng tôi, xin bạn hãy lên tiếng với tôi, vì tôi biết rằng tôi đến cuộc đời này chỉ là để tìm bạn!”

Đây là một bài thơ cô đơn nữa của chị tặng cho bạn gái Bích Nga. Nỗi cô đơn của chị đặc quánh đến mức mà chỉ còn duy nhất cái bóng có thể thấu hiểu và thương xót cho chị:



BÓNG TÔI

(Rất nhiều yêu mến tặng Bích Nga)

Tôi về, trời muộn, đường xa
Tôi về… như những ngày qua đi, về

Tiếng chân rớt xuống vỉa hè
Cô đơn chạm với bộn bề loanh quanh

Bóng tôi… lẻ mãi không đành
Thương tôi, bóng ngả xuống thành hai, ba.

Nguyễn Lâm Cúc có những bài thơ tình khá nổi tiếng như “Đêm”, như “Ơn”, như “Một ngày trần gian không cả gió mây bay”… Bài Đêm và Ơn chắc khá nhiều người từng đọc, từng nhớ, còn tôi thích bài “Một ngày trần gian không cả gió mây bay”, thích cái tình yêu “đến chết chưa hề mong tỉnh lại” của chị:

Em yêu anh
ước chi biết tại sao
yêu đến chết
chưa hề mong tỉnh lại
nhưng trời không cho được vậy
vào một ngày trần gian không cả gió mây bay.

Nước lã em từng say
nghiêng hết đêm về phía không có ai
cố hết sức cũng không thể giữ

Anh sanh ra tình em
anh cũng là người bức tử
ôi trái tim khốn khổ
chết rồi xin nguôi đau!

Cơn bão không biết đã cuốn lên từ đâu?
không nghe gió
không nghe mưa
mà trời ơi tan tác!

Thôi cũng đừng cúi nhặt
chờ luân hồi cây cỏ tái sinh.

Cúc nổi tiếng là một người làm thơ mà không thuộc thơ mình. Nghe nói có lần nghe ai đó đọc thơ Cúc, nhà thơ đãng trí này khen hay mà hoàn toàn không biết đó chính là thơ mình. Thỉnh thoảng chép lại những bài thơ cũ của mình vào blog, Cúc thường chép sai so với nguyên bản, hoặc cũng có thể Cúc muốn sáng tạo thêm, sửa đổi đi cho hợp với nỗi lòng chị trong thời điểm hiện tại chăng? Đây là một ví dụ về sự khác nhau của bài thơ tâm đắc nhất của chị trong hai thời điểm khác nhau:



Đãi Trăng

(bản gốc năm 2006)

Hôm nay nhàn ta mở tiệc mời trăng
Để thỏa thích bưng dòng sông ra uống
Bày lên mâm là dạt dào cảm hứng
Bạn tri âm, bạn có vui cùng?

Này trăng, trăng chớ ngại ngần
Cạn ly nhé. Sông có vơi cũng mặc.
Say thì say nhưng đừng khóc!
Trần gian…cứ mặc kệ trần gian.



Đãi Trăng

(bản chỉnh sửa năm 2008)

Hôm nay nhàn, ta mở tiệc mời Trăng
Để thỏa thích bưng dòng sông ra uống!

Rót lặng thinh vào vô biên độ lượng
Đêm giang tay trên thập tự mênh mông.

Này Trăng
Ta cũng có một tấm lòng...
Để tha thứ và để đau nông nổi
Trăng có gì riêng mà trầm tư chẳng nói?
Cứ xa xăm, cứ lẳng lặng bên trời.

Cạn ly nhé,
Sông có vơi cũng mặc
Say thì say, nhưng đừng khóc
Dẫu thế nao vẫn cứ ngả nghiêng cười.

Tôi biết một số người không thích thơ Cúc, gai góc, triết lý và đôi khi khó hiểu. Có lần tôi nói với một bạn thơ trên blog rằng, với một người ngoại đạo như tôi, có thể cảm nhận thơ theo hai loại chính, một loại trau chuốt, mượt mà, ngọt ngào, ví như ly nước ngọt, bạn có thể uống dễ dàng và thích thú, còn loại thơ thứ hai đầy cá tính, sâu sắc, khúc triết, ví như ly rượu chát, phải nhâm nhi từ từ mới thấy hết vị ngon của nó.

Dĩ nhiên thơ Cúc cũng có những bài, những câu chưa hay, còn đem theo cả ngôn ngữ đời thường vào thơ. Tuy nhiên với góc độ cảm nhận “nhâm nhi rượu chát” của người ngoại đạo, tôi thích đọc thơ Cúc, nhất là trong những phút buồn và cô đơn của cuộc đời, chợt thấy thơ Cúc như nói giúp nỗi lòng mình.

Bạn có lúc nào buồn và cô đơn trong cuộc đời không? Hãy thử đọc thơ Nguyễn Lâm Cúc trong Trang thơ Nguyễn Lâm Cúc mà tôi trang trí và thiết kế như một món quà nhỏ tặng Cúc và bạn bè của chị nơi đây.


Hoài  Vân

BÔNG CÚC RỪNG BÌNH THUẬN

(Đọc tập thơ ĐÃI TRĂNG – Nguyễn Lâm Cúc – NXB Hội Nhà Văn 2006)
 
Trần Quốc Toàn (nhà thơ)

Thơ Lâm Cúc – thứ cúc rừng Bình Thuận, hướng nội, nhiều tâm sự cá nhân. Nhưng Lâm Cúc, không lạm dụng cá nhân để riêng tư một cách cực đoan, dễ thành bí hiểm, nặng nề. Tâm sự trong thơ Lâm Cúc tự nhiên, nhẹ nhàng. Nhiều lời thơ thanh thoát như một ca từ, đọc rất thích:
Chiều quá buồn
Chút nữa e là mưa
Cây nhớ người
Cành lá rũ ngẩn ngơ

Dáng ai giờ
Bụi sương giăng mờ che
Áo thu
Trời
khoác cả mùa sang hè.

(Cây nhớ người)
Nhờ khoáng đạt, cởi mở như thế, tâm sự thơ chạm được tới thời sự cuộc sống, hòa vào thời cuộc. Trong “tâm” có “thời”, những tâm sự dù rất riêng tư của người làm thơ, vẫn mang tầm vóc xã hội.
Có thể tìm thấy trong bài Thương quá đen lai nỗi nhức nhối thời hậu chiến. Những ngang tắt của lẽ đời đã đưa dẫn xung khắc địch ta tới chỗ hòa hợp (về mặt sinh lý) huyết mạch của con người! Đứa Mỹ lai dù là thứ con rơi của một cuộc chiến thì vẫn là sinh mạng, vẫn bé bóng, đáng thương, vẫn là đối tượng của nỗi ước ao được đùm bọc, cưu mang: Bao giờ cho đến ngày xưa / để tôi lại cõng Đen khờ của tôi / Em đứa trẻ rớt bên đời / Tôi làm mẹ tuổi chín mười của đen. Nhức nhồi chưa, chiến tranh bắt một cô bé lên mười phải còng lưng làm mẹ. Nhức nhối chưa, khi cô bé lên mười kia cũng đã biết cuộc ra đời bất đắc dĩ của đứa con rơi mình cõng trên lưng: Người tôi cháy khét mùi phèn / Em từ trong vũng “đê hèn sinh ra. Nỗi nhức nhối cứ theo thời gian mà cắn rứt lương tâm người trách nhiệm: Bây giờ dạ, gấm, chiếu chăn / Làm sao tôi đắp cho em bây giờ / Tấm bao tải bọc ngây thơ / Đã không bọc được gió mưa lạnh lùng. Bài lục bát như một khúc ru buồn, cứ tích tụ những nhức nhối thời chiến để rồi nổ bom trong một ngày hòa bình, những tưởng chiến tranh đã thu móng vuốt: Trời ơi! Trời có hay không / qủa bom bi nổ đã trùm lên Đen / Ai cha em? Ai mẹ em / Ai gây chinh chiến Đen đền máu xương. Người làm thơ kêu trời trên cao kia rồi nhắc nhở đồng loại ngay bên mình: Người gieo những qủa bom bi / Biết không bom đã giết đi con mình. Nhà thơ nhắc “người” mà cũng là nhắc mình vì chữ “con” cuối bài liền mạch với lời tự xưng, “tôi làm mẹ” đã được xác quyết ngay đầu bài. Với cấu tứ như thế, để lên án chiến tranh xâm lược, Lâm Cúc đã tổ chức được trong thơ mình một tòa án lương tâm.
Nhưng tâm sự thường trực hơn trong ĐÃI TRĂNG là nỗi âu lo về cái khó của việc làm người trong hiện tại hôm nay khi con người đang mải làm giàu, làm giàu đang được khuyến khích. Mải làm giàu, người ta làm héo cây ngô đồng một biểu tượng tình ái trong dân ca Việt: Chen nhau xuống phố kiếm tiền / ngày đi hối hả bỏ quên luống cày / phố phường mưa bạc, gió day / người về ngó ruộng tiếc cây ngô đồng (Tiếc cây ngô đồng). Mải làm giàu rồi mải hưởng thụ, người chồng say, đánh đắm người vợ một thời tỉnh táo của mình: Chị tôi tay tự trói tay / Ô hô cái kiếp chồng say ơ hờ / Ao nông mà chẳng thấy bờ / Chị ơi lội đến bao giờ cho qua…trong cái ao tù kia, một ngày của người vợ tội nghiệp là một ngày dài bắt đầu với những khổ sai tần số cao – 5 thanh trắc công việc trong dòng lục bát nặng nề chỉ có 1 thanh bằng, và kết bằng vết cắt đứt ruột, bằng một chữ đã có từ thời truyện Kiều: Quần quật giặt, giũ, dọn, đơm / Mờ sương quẩy gánh đoạn trường tận khuya (Ca dao buồn). Chính người say ấy một lần khác: Anh về mang bão về theo / Bàn nghiêng, ghế đổ, chó mèo lánh xa / trẻ con khép nép góc nhà / Em qua hàng xóm núp nhờ qua cơn… để rồi Bếp tình lạnh ngắt ngồi nhen / Phập phù thổi gió bay lên tro tàn (Bão). Âu lo rồi an ủi! Và trên hết, người phụ nữ trong thơ Lâm Cúc tìm ra cách thức mềm mại những bề bỉ để giữ người của mình, cách thức ấy được chấp nhận, mong chờ:
Nhớ chiều nhóm bếp nghe em
Để anh nhìn ngọn khói lên anh về
Vào ra giữa chốn hội hè
Mong manh níu sợi khói quê làm người

(Xin em)
Cả tập ĐÃI TRĂNG nối dài tâm sự về chuyện “làm người”, dòng tâm sự giàu nữ tính và nhạc tính.
T.Q.T.

HỒ TĨNH TÂM LỤC BÁT CỦA NGUYỄN LÂM CÚC


minh họaXưa nay Nguyễn Lâm Cúc vẫn lấy trăng đãi người, nhưng lần này chị đã đãi tôi một tiệc thơ lục bát. Đọc xong thấy thích, HTT mạn phép tác giả post lên đây hầu bạn đọc.

Làm thơ lục bát vừa dễ vừa khó. Dễ̀ là vì người Việt ta ai cũng vỏ vẻ biết chút đỉnh về thơ lục bát, thấm nhuần lục bát trong máu từ thuở còn nằm nôi. Khó là bởi phải làm sao cho thể thơ truyền thông cổ điển này mới hơn, hòa nhập hơn trong dòng chảy thơ ca hiện đại.
Tôi không dám nói chùm thơ lục bát này của Nguyễn Lâm Cúc hoàn toàn mới, nhưng rõ ràng là từng bài, từng bài một, vẫn hội nhập được với thơ hiện đại, vẫn có cái tình, cái ý riêng của Nguyễn Lâm Cúc.

Thôi thì để bạn đọc tự đọc, tự thẩm định lấy vậy. HTT cũng chỉ vui vui vì được tặng thơ mà giới thiệu và góp chút đỉnh gọi là bàn luận lương sương cho vui.
Xin chúc mừng Nguyễn Lâm Cúc thơ càng ngày càng hay!
HTT


CA DAO BUỒN
Chị tôi tay tự trói tay
Ô hô! Cái kiếp chồng say ơ hờ...
Ao nông mà chẳng thấy bờ
Chị ơi lội đến bao giờ cho qua?..
Thân làm cây chuối trổ hoa
Cho người đốn gốc rồi ra bẻ buồng
Quần quật giặt giũ, dọn, đơm
Mờ sương quảy gánh đoan trường mà đi!
Ai người đợi chị tôi về?
Thương đôi guốc mộc chưa hề chạm chân.
Hai tay xơ xác phong trần
Đưa ra năm ngón khô dần cả năm.
Lời bình: “Ca dao buồn” là một bài thơ lục bát chân chất, chân tình, mộc mạc, nhưng đọc rồi thì sẽ bị ám ảnh bởi những kỷ niệm, những hồi tưởng đầy chất thơ của nó.
Bài thơ mở đầu với âm hưởng của thán từ, nghe vừa vui, vừa đau, vừa như “bị” tự cảnh tỉnh (hay được cảnh tỉnh):
Chị tôi tay tự trói tay
Ô hô! Cái kiếp chồng say ơ hờ...
Liền đó, hình ảnh thơ vụt hiện một thân phận- xem ra vừa chua xót vừa ngậm ngùi. Nó như thể đang nung lên nỗi buồn của đứa em về cuộc đời long đong lận đận của người chị, dường như đã lỡ cả một đời, khó mà gượng đứng dậy, khó mà dám vứt bỏ để vượt qua.
Ao nông mà chẳng thấy bờ
Chị ơi lội đến bao giờ cho qua.?..
Đọc đến đây chúng ta vẫn chưa thấy sự cảm thông, chia sẻ, mà chỉ thấy nỗi đau rung nhức trong từng câu chữ, khiến hình ảnh lầm lũi chịu đựng, cúi đầu nhẫn nại chịu đựng của người chị, sao mà buốt đau trong ngực. Chỉ với hai câu, nỗi đau đã được Nguyễn Lâm Cúc nhân lên gấp bội lần, bởi sự phủ phàng đến tàn nhẫn, đè nặng lên thân phận cuộc đời một người phụ nữ.
Thân làm cây chuối trổ hoa
Cho người đốn gốc rồi ra bẻ buồng
Thơ viết tới đây đã đầm đìa nước mắt. Nước mắt có thể nói là càng lúc càng thấm đẫm trong từng câu từng chữ. Vậy nhưng Nguyễn Lâm Cúc vẫn muốn giải bày cho cụ thể hơn, minh tường hơn, bằng lối kể truyền thống, trong truyền thống loại hình “thơ kể chuyện” Việt Nam. Kể để mà chốt lại, để mà mở ra, để vin vào đó, nương vào đó, gieo một tứ thơ chạnh lòng và nhói lòng, khiến ta phải bàng hoàng trước một sự thật đang riết chặt cuộc đời của biết bao người phụ nữ “lỡ bước sang ngang”:
Quần quật giặt giũ, dọn, đơm
Mờ sương quảy gánh đoan trường mà đi!
Ai người đợi chị tôi về?
Thương đôi guốc mộc chưa hề chạm chân.
Cái hay của hai khổ thơ này là lối dụng từ khá đắt. “Quảy gánh dặm trường”,”thương đôi guốc mộc/ chưa hề chạm chân”. Rõ là hình ảnh thơ phản ánh thân phận một người phụ nữ nông thôn chứ còn gì nữa. Trên trái đất này, người phụ nữ không chỉ gánh nặng nỗi cơ cực trên đôi vai gầy nhỏ bé, mà còn phải oằn lưng gánh nặng nỗi bất công từ trong gia đình ra ngoài xã hội. Chỉ một ước mơ nhỏ nhoi, là được một lần xỏ chân vào đôi guốc mộc, nhưng ngay cả điều đó cũng không dễ gì. Để đến nỗi, cuối cùng Nguyễn Lâm Cúc đã phải dựng lên một hình tượng thơ, run rẩy đến bàng hoàng trước mắt ta:
Hai tay xơ xác phong trần
Đưa ra năm ngón khô dần cả năm.

MƯA RIÊNG
Trời riêng một khúc đổ mưa
Bên kia nắng, bên này vừa hanh hanh
Thì thôi em ướt cũng đành
Trách người nỡ tiếc một manh áo choàng.
Bàn luận:
Lục bát là thể thơ xưa
Vào tay Lâm Cúc đẩy đưa – mới liền
Trời hành chi, mưa liên miên
Trách người hẹp bụng làm phiền đến thân
Đọc xong tự thấy tần ngần
Thôi thì thôi cũng một lần ấy thôi.
HTT
SỢI KHÓI QUÊ
Nhớ chiều nhóm bếp nghe em
Để anh nhìn ngọn khói lên anh về
Ngả nghiêng giữa chốn hội hè
Mong manh níu sợi khói quê làm người.
Bàn luận:
Khói lên thành nỗi nhớ ai
Khen Nguyễn Lâm Cúc có bài thơ hay
Ngả nghiêng đến nỗi thế này
Bốn câu níu lại một ngày nhớ anh
Dẫu nhà quê, dẫu thị thành
Yêu nhau thì sợi chỉ mành cũng se.
HTT
TIẾC CÂY NGÔ ĐỒNG
Chen nhau xuống phố kiếm tiền
Ngày đi hối hả bỏ quên luống cày
Phố phường mưa bạc, gió day
Người về ngó ruộng tiếc cây ngô đồng.
Bàn luận:
Người ta ra phố kiếm tiền
Tôi nay ra ruộng kiếm tiên nâu sồng
Nhưng mà chỉ gặp ngô đồng
Còn ai gánh nước mà trông nữa nào?
HTT BÂNG KHUÂNG
Người đi người đứng trông theo
cách nhau chỉ một chữ yêu ngập ngừng
nửa muốn nói, nửa bảo đừng
bâng khuâng nghiêng cả một vùng ước mơ.
Bàn luận:
Hai câu thơ cuối rất hay
Một vùng thương nhớ dứt day cõi lòng
Bâng khuâng quá, nỗi đèo bòng
Tương tư đến độ long đong dặm trường
Nửa thì muồn nói rằng thương
Nửa thì lại sợ giữa đường đứt dây
Xưa nay góc bể chân mây
Xa nhau thì khó sum vầy người ơi.
Trong bài viết về “ca dao buồn”, HTT có nói về sự bất công mà người phụ nữ từng phải truyền đời chịu đựng, nay HTT muốn nói thêm với Lâm Cúc về điều đó.
Thực ra trong quá khứ lịch sử, dân tộc ta không hề có tư tưởng trọng nam khinh nữ. Tư tưởng ấy trở thành ý thức hệ trong xã hội Trung Quốc phong kiến, dẫn đến họa thiếu phụ nữ trầm trọng ngày nay. Khi tìm hiểu nghiên cứu về tôn giáo, HTT giật mình nhận ra, hình như nước ta là một quốc gia không có đạo. Đạo Phật đến từ phương Đông, đạo Thiên Chúa đến từ phương Tây. Mãi sau này, ở miền Nam mới xuất hiện hai dòng đạo Việt là Cao Đài và Hòa Hảo. Một dân tộc bản lĩnh nhương ấy, một dân tộc tự cường nhường ấy, chẳng lẽ suốt bốn ngàn năm lập nước và dựng nước lại không có chính đạo để hướng cõi tâm linh?!
Tìm kiếm trong lịch sử, HTT nhận ra nước ta có bốn vị thánh bất hủ, là Thần Tản Viên, Đinh Tiên Hoàng, Chữ Đồng Tử và bà Chúa Liễu Hạnh. Trong đó, dường như sự có mặt của Bà Chúa Liễu là ở khắp nơi.
Nước ta từ xa xưa đã có tục tôn thờ chữ “Cái” (Mẹ). Sông Cái, đường Cái. Vị thế của người Mẹ được tôn vinh rất cao. Nếu không có những cuộc xâm lược của người Trung Hoa, sự áp đặt văn hóa Trung Hoa, chắc chắn chúng ta không bị nhiễm (phần nào) ý thức hệ phong kiến theo kiểu Trung Quốc phong kiến. Và như vậy, chắc chắn đạo chính thống của nước ta phải là đạo Mẹ (Mẫu đạo). Nói tới Trời là đấng quyền lực vô song, chúng ta có Mẹ Trời. Rồi thì Mẹ Đất, Mẹ Núi, Mẹ Sông, Mẹ biển… Mẹ Việt là thần thái của dân tộc này, bản lĩnh của dân tộc này, văn hóa đỉnh cao của dân tộc này.
HTT đã đến thăm những ngôi chùa nổi tiếng như Chùa Bà ở núi Bà Đen- Tây Ninh, chùa bà Chúa xứ ở Châu Đốc, chùa bà Chúa Kho ở Bắc Ninh… rõ ràng vai trò của người phụ nữ trong lịch sử là rất lớn- nếu như không muốn nhắc đến những nhân vật lịch sử như Hai Bà Trung, Triệu Trình Nương, Bùi Thị Xuân, bà Từ Vũ, bà Thái hậu Dương Vân Nga…
Trong cuộc sống thường nhật, người phụ nữ là điểm tựa hình thành nên sức mạnh cho người đàn ông, bởi vị trí và vai trò của họ thể hiện rất đậm nét trong việc hình thành ý thức hệ gia đình và làng xã.
Anh đi theo Chúa Tây Sơn
Em về cày cuốc mà thương mẹ già
Trên tinh thần đề cao vai trò người phụ nữ- người Mẹ- dân gian thậm chí còn hạ bệ cả vua chúa.
Một nhà sinh được ba vua
Vua sống, vua chết, vua thua chạy dài
Như vậy đấy! Nguyễn Lâm Cúc ơi!
HTT

Thứ Bảy, 27 tháng 11, 2010

MỆNH GIÁ

( ảnh chôm trên mạng)

Vàng lên rau muống cũng lên
Xót mình nênh nỗi đồng tiền hai trăm
Có mệnh có giá có năm
Xài  thì không đặng, đem quăng chẳng đành.

18/11/2010
NLC

Thứ Ba, 23 tháng 11, 2010

Có một ngày sinh nhật giấu tên

PHAN ĐÌNH MINH
(Thân mến tặng Nguyễn Lâm Cúc)
"Tôi là người kém may mắn, điều kém nhất đó là không có được một cô con gái. Khi đọc bài thơ này của nhà văn PĐM, tôi càng tiếc, nếu không, tôi có thể "mượn" để làm hành trang cho "tiểu thư" của mình".
Nhờ cái còm này cách đây mười tháng khi tôi đưa lên blogs mình bài thơ "Điều cha muốn nói" tôi biết được Nguyễn Lâm Cúc. Phải nói là cám ơn blogs, nhờ blogs mà tôi được quen và giờ có thể nói là được kết bạn với Thiền viện, với NLC. Từ đó, đều đặn chúng tôi gặp nhau trên văn chương ảo, điện thoại và có những cuộc giao lưu với từng cô gái tài giỏi của "tứ nữ cô nương".
Quen với những người đàn bà viết, người mới vào nghề, người đã thành danh, nhưng sự đặc biệt của 4 cô nương này thực sự là điều hứng thú mong gặp của nhiều người nói chung và giới mày râu văn chương nói riêng. Họ là những yếu nhân ít nhiều thành đạt trong con đường sự nghiệp nhưng đa phần các chị chịu sự thiệt thòi ngang trái của cái gọi là nhân thế. Ông trời khai thác họ triệt để, xét về nghĩa đen nhưng lại rất hào phóng họ tài năng, cái mà nhân gian ai nấy chỉ ước giọt giọt. NLC là một trong những người thế. 3 cô sinh vào tháng 9. Cái tháng ở phương Bắc những lát gió ngày nào cũng say, hòa loãng nắng vẩy lên không khí hội hè. Hoải Vân, Hoa Lục Bình, ai đều biết. Riêng NLC, đến nội bộ Thiền viện cũng không rõ Cúc sinh ngày nào. Không biết ngày Cúc ra đời có gì trắc trở, buồn, mà Cúc giấu?
 Ai quen Cúc, gặp hay nói chuyện một lần là quý Cúc ngay. Cúc dễ chịu và ân cần, thông minh và dí dỏm; hiểu biết và nhậy cảm; khiêm nhường mà rõ ràng; quyết liệt nhưng lại dễ tổn thương... tôi nói không quá. Và tôi tin vào cảm nhận, linh cảm mình. Trong tứ cô nương, Cúc không giữ những trọng trách xã hội phân công nhiều như 3 cô kia, nhưng Thiền viện, Cúc dường là chị cả, là nhựa gắn kết những tấm lòng. Có lúc tôi thấy Cúc say sưa kể tốt về Thanh Chung, Hoài Vân, về Hoa Lục Bình, nếu là đàn bà chắc tôi phát ghen lắm.
Từ đọc văn chương, từ những cuộc trao đổi trên điện thoại, dầu chưa một lần gặp, tôi tôn trọng và mến Cúc. Trước tiên là cảm nhận văn học, đến cái tài của Cúc, sau là tấm lòng. Tôi vô cùng xúc động khi giữa đêm trông cha ốm ở bệnh viện, tôi nhận được một file nhạc. Với lời nhắn "bài hát được phổ từ thơ của Cúc. Anh mở cho bác nghe". Cúc lặn lội tìm một lời mật chú, gửi cho tôi chuyền đến cha tôi, mong cụ qua cơn bạo bệnh. Giờ, tôi nghĩ đó là những dấu ấn tình cảm, những hành cử không quên về những người bạn quý mến của mình. Và giờ, với tôi, Cúc là bạn viết tốt. Có lúc tôi kể chuyện chú em, cô cháu gái..., chuyện công sở cho Cúc nghe, và Cúc cũng vậy. Lúc nào buồn buồn, khúc mắc gì Cúc lại điện thoại nhờ tôi tư vấn. Tôi vốn tào lao, hay gắt gỏng, chê bai Cúc...
 Cúc ở Bình Thuận, từ trước khi quen, tôi đã mốc dấu một vấn đề: Bình Thuận không những có biển đẹp, mực hai nắng ngọt ngào, thanh long mát dịu, còn có những con người tài giỏi, từ lâu và giờ tôi thấy. Ở xứ biển thông thênh đó đã có nhà văn hóa lớn nước mình, anh Bắc Sơn...
      Đọc Cúc, tôi thích nhất là Thơ, thơ Cúc hay, hình tượng, ma mị và dẫn dụ. Tôi thường đọc đi đọc lại những bài thơ Cúc làm và hay bị ám ảnh bởi những câu thơ như:
Chiều trên núi chỉ còn toàn voan trắng
Tro chẳng thèm bay thổi mải rợn người
Bầy chữ chết không thể nào cháy nổi
Trơ khất thế kia biết có luân hồi?
(Voan trắng)
Mặt Trời lăn xuống núi thưa
Đổ bao thương nhớ cho vừa lòng đêm.
(Chăn mặt trời)
Hoá vàng những giấc mộng du
Còn trơ khâng khấc cợt đùa nhân sinh
(Lục bát phập phù)
Có một lần say khướt với mênh mông
Rồi ngất ngưởng kéo màn trời toạc xuống
Trăng lồ lộ...
Ngọc ngà hơn tưởng tượng

Từ đó về hóa mộng mị liêu xiêu
(Say trăng)
Lột từng lớp vỏ hề hề
Thấy trong hớn hở não nề lớn khôn.
(Buồn tay bẻ một nụ cười)
Em bổi hổi mang xuân ra cược hết
Ừ thì chơi cho nghiêng nước nghiêng thành!
Bao chiếc lá rụng rơi không kịp biếc
Rưng rưng hồn những cánh rừng xanh
(Ngày không huề vốn)
Không tin tìm hỏi thu vàng"
Bàn tay cao thượng che tràn tái tê
Nhưng tin thì đông đã về
Gió bấc rờn rợn đầu hè thổi quanh.

(Không tin tìm hỏi thu vàng)
Vân vân và vân vân...
Đọc những bài thơ này, nếu không hề biết tác giả là nữ. Chắc chắn ai cũng nói đây là một tay thơ mày râu lão luyện. Còn khi biết rồi, tôi chắc ai cũng phải kiêng.
Cái đặc biệt ở văn chương Cúc là Cúc biết được mình đang làm gì, bút lực tới đâu, và quan trọng là hiểu, nắm vững cái luật làm văn. Làm văn quyện với sự làm người. Lâu lâu rồi, tôi nhớ, có một người đã "thành danh" nói tại một hội nghị lớn về văn học "Đến bây giờ tôi không biết văn thế nào là hay, ai có thể chỉ cho tôi". Và cả khán trường yên lặng. Chắc cũng có người muốn nói, muốn trả lời nhưng lại sợ "múa thợ qua mắt rìu". Tôi thì chỉ nghĩ đơn giản một điều: Đồ ăn vật chất thì ta biết chắc rồi, ngon hay không ngon dễ biết, nếm khẽ chút là thấy. Vật chất, miếng ăn, thức uống thì tác động trực diện vào các giác quan, he he, gần đây người ta lại rất chú trọng đến thị giác, thính giác trong ăn uống, ẩm thực. Còn văn chương là món ăn tinh thần, vậy cái sự ngon tinh thần là gì, mạo muội nó không là thú, là khoái, là tầm cao, là văn hóa, là khiến ta nổi da gà, làm ta khóc ầm lên, Khiến ta tá hóa tam tinh, làm ta vỗ đùi tâm đắc,  bảo ta gật gù nhớ mãi, là bắt lục phủ ngũ tạng ta di cư loạn xạ... Thế là văn hay chứ là cái gì. Làm gì mà phải kinh viện, hoa mỹ. Trìu tượng và mung lung; chau mày rồi mất ngủ mà ngẫm ngợi. Vậy nên, tôi cảm người viết, viết gì nếu thấy có văn và có chuyện coi như là thành công. Nguyễn Lâm Cúc rất kỹ điều này, khi viết là của mình, khi đưa ra, dù đưa đọc trên đài, in trên báo, đưa lên blogs, tức là quảng giao cho người đọc là của thiên hạ rồi, NLC  luôn hiểu và cẩn trọng. Có lần tôi đã thử, bới hoài văn Cúc, thấy chẳng tìm đâu xác chữ. Thứ mà bây giờ nhiều người không chú ý và có khi không làm được. Văn Cúc mạnh tính khai thác, gạn gữu, ý tưởng. Điều này hiếm trong các cây bút nữ. Một số vấn đề, một số chuyện Cúc đưa ra có thể xếp vào tầm để mọi người nhớ lâu được. Khe Khe. Không tin vào blogs Cúc đọc một loạt truyện cực ngắn gần tháng nay nữ sỹ này đưa lên. Cúc cũng là cây bút phê bình thạo. Tôi nghe ai nói một lần trên web HNV: tiêu chí toàn diện của người viết là ngoài sáng tác được các thể loại đa dạng, còn viết khá những bài luận, bài phê bình.
 "Nhìn phong cách của anh có chút gì đó giống nhân vật Tế Điên Hòa Thượng, bụi bặm, dân dã. Chính vì thế mà những ngôn từ hàm chứa những triết lý nhân văn sâu xa khó được chấp nhận trong con mắt của những kẻ trưởng giả, hoặc những người khoác bằng cấp, học hàm như một thứ trang sức, hay giấy thông hành len lỏi vào một giới nào đó."- NLC nói về Nguyễn Bắc Sơn vậy - Chuẩn không!;
"Khi trong trái tim mình chưa có nhịp đập nào dành cho ái tình, thì  tôi ngày đêm đã mơ tưởng về Hà Nội, nơi mang trái tim của đất nước. Tôi đã hàng trăm lần giở trang sách giáo khoa tiểu học có hình chùa Một cột rồi ngồi mơ. Với tôi, Chùa Một Cột là công trình kiến trúc tráng lệ nhất của loài người. Mơ màng về chùa Một cột, trái tim nhỏ bé của tôi tỏa sáng  niềm tự hào không có gì sánh bằng. Tôi thổn thức yêu Hà Nội. Khi tìm gặp nhau, tôi vỡ òa thất vọng..." - Ký thác một tình yêu Hà Nội.
"Văn của anh như đất nâu, như ngọn gió thổi từ cánh đồng oai oải mùi cỏ thơm thơm. Như giọng nói của người chú, người cha vọng lên từ đám ruộng, từ  cọng vó ven sông mùa nước nổi"... "Và một truyện ngắn chỉ là một nét sổ trong bức tranh về cuộc đời sáng tác của một tác giả. Có khi nét ấy là chút gió làm lay động tâm tư đã bất động khá lâu của người đọc. Cũng có thể đó là nét điểm nhãn, mở ra cánh cửa khám phá tâm hồn của nhà văn và những gì tác giả quan tâm suốt sự nghiệp cầm bút của đời mình..." - bình bằng cái lòng và bằng cảm xúc thật từ tác phẩm được như thế là cùng. Tôi nghĩ phê bình, giờ, người ta hay làm xiếc câu chữ, kinh kẹ hoặc  nói những chuyện loăng quăng, đêm thức cùng, chuyến tầu dài ngày, bữa rượu thông ngày sang đêm, đợt đi trại sáng tác năm ấy, thời của những giấc mơ... để bình tác phẩm và người. Và cũng có tác giả bằng sự óng ả câu văn, sự tinh khôn từ vựng, sự uyên bác, phép rút ra bởi lý thuyết làm văn được các học giả đúc đổ nhào lặn, mưng nấu, kho sào, vôi bả mà thành nhiều bài bình được người đời đọc và thú. Mà cái sự đọc không bằng tâm, đọc không bằng trí đọc, đọc hời hợt tung huyênh; đọc như trẫu tràng nhẩy qua chảo mật..., đừng đọc Cúc, Cúc buồn. He. Không hay tưởng là hay, cái hay  lặn bên trong lại chả thấy, đến mạch văn cũng không bắt được. Buồn. Đọc kỹ Cúc sẽ thấy Cúc viết bằng hết tấm lòng, cảm xúc thật, chảy tràn, bo chữ, viết vậy, giờ, ngại lắm vì như thế thấy sự sàng chữ tốn nguyên liệu vô cùng. Có nhà văn lớn nói với tôi cách đây nhiều năm rồi. Viết bằng sống hẵng viết, có ngày máu văn mình sẽ cạn lúc nào?!
Những tản văn, ký sự (phải gọi là như thế) về quan sát cuộc sống của NLC cũng là một đề tài đáng nể, trong hành trang sáng tác vừa rồi của chị, với: Lo bò trắng răng; Em vẽ những tấm lòng; Vừa đi, vừa hú vía; Cát Tiên trong mắt người nhớ rừng... đều để lại  ấn tượng khó quên trong lòng bạn đọc. Là một Biên tập viên hay làm công việc bếp núc gì gì của đài truyền hình cấp huyện tỉnh Bình Thuận, việc giao lưu quảng giao văn học, quảng giao sáng tác mình là rất hạn chế nhưng hữu xạ tự nhiên hương, NLC đã được rất nhiều người biết và mến mộ qua tác phẩm. Với kinh nghiệm nhiều năm,  sự thông thổ, biết nhiều tờ báo văn, văn nghệ trong nước, tôi nghĩ sao người ta không đưa NLC đến, đảm nhận vị trí gì từa tựa như là gác cửa các ban biên tập nhỉ. Việc để NLC cứ miệt mài sáng tác, miệt mài cống hiến cho văn học mà những người trách nhiệm trong giới văn chương không chịu vi hành để thấy thì làm sao cảm được tài, văn lực của cô gái xứ xa này nói riêng và nhiều phiến vàng quý còn chưa biết đến nói chung. Đó cũng là lời nói, ý kiến của rất nhiều người viết ở vài cuộc hội ngộ văn chương. Bằng tình cảm, sự trân trọng, và hồ hởi, tôi viết những dòng này về Nguyễn Lâm Cúc như một món quà trân trọng gửi tới chị mừng ngày sinh nhật tháng 9 nắng mật ngọt này./.
                                                                                       25/9/2010

Thứ Hai, 22 tháng 11, 2010

Nguyễn Lâm Cúc CHĂN MẶT TRỜI

CHĂN MẶT TRỜI

Nguyễn Lâm Cúc
Ngừng thôi – roi quất lưng chiều
Chân cuồng chăn dắt còn yêu đỏ mùa?


Mặt Trời lăn xuống núi thưa
Đổ bao thương nhớ cho vừa lòng đêm.


Cởi ra lại buộc vào thêm
Vay kiêu hãnh trả nỗi niềm. Đủ chưa!


Nẫu nhừ từ độ chanh chua
Hồn mơ một dạo sương đùa bóng qua


Đường xa xa
Đường xa xa
Chiều rơi chầm chậm
Mình ta uống chiều.

11/7/2010

Lời bình của Vân Đình Hùng: Vay kiêu hãnh trả nỗi niềm

Tháng bảy đọc thơ Nguyễn Lâm Cúc không khỏi chạnh lòng. Mùa ngâu ngoài Bắc treo câu đồng dao: vào ba ra bảy rẫy tám… Mùng ba, mười ba, hai ba. Mùng bảy, mười bảy, hai bảy. Đấy là những ngày chính Ngâu! Mùng tám, mười tám, hai tám tạnh ngâu. Mùa này Ngưu Lang được phép gặp Chức Nữ. Nhớ thương nhau cả hai đều sùi sụt. Nhân gian ướt sũng vì tình cảm của họ. Chàng Ngưu chăn trâu trên mặt trăng, vương quốc riêng của nàng Hằng Nga ngời ngợi. Nguyễn Rừng Cúc đi chăn mặt trời, cuối ngày ngồi ngắm chiều rơi chầm chậm… nhâm nhi uống chiều để lại bâng khuâng cho chính mình và bạn đọc thơ mình.
Vay trả sòng phẳng là một tính cách dễ thấy trong văn phong của Nguyễn Lâm Cúc. Từ những cảm nhận viết chơi cho blog của bạn đến một nhận xét khá xác đáng trong bài viết cho tập thơ Cởi gió của nhà thơ Quế Mai: “Tôi yêu những bài thơ sanh ra từ nỗi niềm của một số phận. Tôi càng yêu những câu thơ ra đời từ thấp thỏm áo cơm. Chúng mang trên mình mùi oi nồng của giọt mồ hôi. Thậm chí có lúc còn ngửi thấy cả mùi phân bón hòa lẫn với mùi ngai ngái cỏ cây và bụi bặm mịt mù. Vì thế, chúng lấm lem và mệt mỏi. Nhưng chúng đầy sức sống!”
Điều này như ám vào thơ của chị. Chân cuồng chăn dắt còn yêu đỏ mùa? là câu thơ của một số phận. Chân cuồng – mỏi. Chân cuồng chăn dắt – mệt. Mồ hôi nhỏ giọt. Mỏi mệt theo mồ hôi chảy ra ngoài. Nỗi buồn thì lại chảy vào trong. Lặn sâu, thật sâu ở nơi hoang vu cõi lòng nữ sỹ. Để lúc ngắm hoàng hôn chầm chậm rơi, cục buồn tự dưng bật lên đồng hành với thân xác một khối nhìn trái sáng như đang vọng ai. Em có vọng ai đâu mà hoá đá (Xem đêm – Thơ Phùng Cung)
“Chúng như chàng trai mở phanh cúc áo thách thức số phận. Chúng như người mẹ lưng còng nhưng sẵn sàng cõng đất nước đi qua mùa chiến tranh. Nhưng với mẹ, các con hãy cứ lên năm.  Đáng tiếc, đứa con lên năm trong hình hài già cỗi làm mẹ đau lòng biết bao nhiêu!”
Tôi hoài nghi đứa con lên năm trong hình hài già cỗi của chị. Tuổi này ở nông thôn miền Bắc là đã biết làm ngưu lang đi chăn… mặt trời rồi. Hà cớ gì phải già cỗi nhỉ?
Tiếng roi quất lưng chiều ráng đỏ. Đỏ cả mùa yêu. Thế mà lòng đêm sâu thẳm trong thơ này, của chị, nuốt chửng mọi nỗi niềm mà chưa hả. Hay là có gì sái thời còn chanh chua mà ra nông nỗi. Hay là mượn câu của cụ Lê Đạt nông nỗi heo may từ đó!
Năm câu lục bát là ngũ cung: hồ, xừ, xang, cống, xế. Trọn khúc này, người thơ về đâu nhỉ? Tôi đồ rằng, chiều này là chiều Tánh Linh, nơi chị đang hành xác cùng với đàn voi nổi danh một dạo. Vọng từ đâu mà tự dưng nghĩ tới chăn mặt trời? Nếu được cưỡi trên lưng thì giời ạ, khỏi bàn luôn. Hay là giấu ở nơi thật sâu kia là khao khát. Nỗi niềm này đã trả cho cái kiêu hãnh từ độ chanh chua rồi còn gì.
Tiếng roi quất lưng chiều ráng đỏ. Tím cả mùa yêu. Màu sắc chuyển theo cái hòa sắc của quang phổ con vật bị chăn dắt. Người đi chăn luôn được áp sát với oi nồng, với chói loà, với dương thịnh, với bề ngoài, phía trên. Còn bên trong, phía dưới, phần âm? Những thứ ấy chính là thứ mà chị đang hướng tới, thơ chị đang hướng tới.
Tiếng roi quất lưng chiều ráng đỏ. Vàng cả mùa yêu… Tôi như bị thôi miên bởi thi ảnh này, chập chờn ma mị, nghe như có cả tiếng voi rống trầm hùng.
Và chợt nhiên nghe ngừng thôi – roi quất lưng chiều. Tôi chợt tỉnh để trở về cõi thực. Bất chợt trước mặt tôi bạt ngàn hoa cúc xanh trong dáng chiều vàng rộm màu rơm ngày mùa. Mùi rơm thơm ngất ngây. Mùi cốm đầu nia trinh nguyên gói trong lá sen bánh tẻ gọi mời. Hương thơm oải oải mùi thơm một nắng. Mời người chăn dắt, suốt đời chăn dắt như cái nghiệp đã khoác của nhà đài, nhà thơ nữ ở đất đã bình lại thuận.
Roi quất lưng chiều. Roi quất lưng… chiều rơi chầm chậm. Thật chậm, thật… chậm! Và nhàn hạ như đi chăn mặt trời vậy.
Ngày 17/10/2010 – Vân Đình Hùng

2 Responses to “Nguyễn Lâm Cúc CHĂN MẶT TRỜI”

  1. Thanh An 19/10/2010
    Gió không phải là roi mà đá núi phải mòn – là một câu thơ nổi tiếng của nhà thơ Hữu Thỉnh được xào nấu một cách khéo léo lại được người bình tỉa tót thêm mấy bông hoa cà chua, nhánh hành xinh …thành một đĩa khá tươm tất.
    Khen thay công nghệ tinh vi bác Tạo ạ.
    _______
    Gửi Thanh An,
    Tôi nghĩ: Nghệ thuật khởi đầu là bắt chước. Bắt chước thiên nhiên, vạn vật, con người… và bắt chước nhau. Ai đã làm ra “lục bát” để người đời sau còn bắt chước đến muôn năm? Nhưng khi nó thực sự là nghệ thuật tức là nó trở thành một sáng tạo độc lập.
    Bài thơ của Nguyễn Lâm Cúc là một sáng tạo có cá tính riêng mà không phải ai cũng viết được như vậy. Chỉ một chữ “quất” mà bạn bảo là “tinh vi” thì bạn đã bị ám ảnh quá về chữ đó rồi. Vì thế mà ý kiến của bạn như một hỏa mù tung ra giữa đám đông.
    Đọc nhau có thể thích hoặc không thích, nhưng không phải cái gì bạn không thích đều đúng với mọi người.
    Cám ơn bạn đã ghé thăm và có lời.
    NTT

Truyện ngắn ngắn của Nguyễn Lâm Cúc

 

Nguyễn Lâm Cúc
NTT: Nguyễn Lâm Cúc (tỉnh Bình Thuận) là một cây bút sắc sảo cả thơ và văn xuôi trên làng mạng Vnweblogs. Chị đã xuất bản thơ và gần đây, xuất hiện trong tập truyện “Tin nhắn một chiều” cùng 3 nữ sĩ là Thanh Chung, Hải Vân, Kim Oanh, được dân blog gọi là “Tứ quái cô nương”. Ngoài đời chị thâm trầm và lặng lẽ, nhưng văn chị lại sắc và giàu chất thơ. Chị luôn mang đến những bất ngờ thú vị trong mỗi tác phẩm của mình dù dài hay ngắn. Dưới đây là 3 truyện ngắn ngắn mới nhất của chị.


NGUYỄN LÂM CÚC

BẢN NĂNG VÀ TƯ DUY

Khi người ta mang những viên đá đến đặt móng xây ngôi nhà cho cặp vợ chồng trẻ, thì chú chim nhỏ xiu, lông vàng, mỏ xanh cũng bắt đầu tha những cọng cỏ xây chiếc tổ xinh xinh.
Chú chim bay đi, bay lại không mệt mỏi giữa đám cỏ chỉ đang phất phơ bông với cành nhô của một cây thông nhỏ. Không có bàn tay, chỉ đôi chân và chiếc mỏ nhỏ xiu thế mà chú chim xây được chiếc tổ to vô cùng khéo léo, có thể chứa cả một gia đình chim. Chú chim vui sướng líu ríu đi mời cô bạn tình đến xem xét tổ ấm. Khi cô bạn nghiêng ngó chiếc tổ bằng đôi mắt nghiêm khắc. Chú chim đậu gần đó rung rung tấm thân như một lời van nài. Nhưng, cô nàng đã không hài lòng. Cô nàng chim mổ dữ dội vào chiếc tổ và vài phút sau công trình cả tháng của chàng chim đã trở thành đám rác trên mặt đất.
Chú chim bắt đầu lại từ đầu. Một tháng sau, chiếc tổ nằm trên một ngáng cây chắc chắn. Nàng chim hài lòng. Thế là ban ngày đôi chim bay đi, tối cùng quay về ríu rít.
Ngôi nhà của cặp vợ chồng trẻ cũng đã xây xong. Người chồng nói cùng vợ, tiền góp xây nhà của anh không bằng số tiền của em, anh rất buồn. Nàng nói, chúng ta không nên tính toán chi li như vậy. Họ cũng bắt đầu cuộc sống sáng đi, chiều về rất rộn ràng.
Vợ chồng chim đã có ba chú chim non. Một ngày kia, chim bố bay về cùng những miếng mồi nuôi vợ con thì phát hiện mèo đã cắn chết chim mẹ và những chú chim non. Chim bố đứng ủ rũ trên tổ mấy hôm rồi gục chết theo.
Một tai nạn xe hơi. Người chồng trẻ qua đời. Một năm sau, người vợ có chồng khác. Đứa con nhỏ gửi về cho bà.
.

NHAI LẠI

Ở một thế giới không có chỗ đứng của chân thật, hai người bạn nói cùng nhau.
Này. Nhìn từ góc độ nào đó tình yêu cũng như một món ăn tinh thần nhẩy?
Ừ. Người bạn kia đang mơ màng, mắt nhìn vào chốn nào đó trả lời máy móc.
Này. Nhưng bạn có công nhận, cái mà ta ăn vào rất ngon, nhưng sau khi qua khỏi họng vật đó lại trào trở ra thì… quá tởm?
Đúng. Tởm. Và không nên nhai lại.
Thế,  yêu một người từng yêu có giống như món ăn kia không?
Hả? Ừ nhẩy. Tởm! Nhưng mà… bò nhai lại xem chừng rất ngon.
.

CHỨNG NÀO TẬT NẤY

Sau không bao nhiêu ngày tháng mộng mơ trái Tim quay về nhìn Lồng Ngực với đôi mắt ầng ậc nước và đầy sự biết ơn, miệng thỏ thẻ: Mình được bạn chở che bao bọc từ ngày chào đời đến giờ, nhưng mình chưa từng vì bạn mà rung lên một nhịp đập nào, chỉ toàn đau nhói bởi người này, kẻ kia thôi. Mình thật tệ!
Lồng Ngực rất cảm động, nó vỗ về trái Tim và nhẹ nhàng nói: Nếu không có bạn, mình chỉ còn lại sự trống rỗng. Cảm ơn bạn đã tin cậy nép sát vào mình. Mình chẳng mong đợi gì ngoài những điều đã có. Thế là đủ.
Trái Tim cảm động quá, nó tựa người vào Lồng Ngực và tự hứa sẽ không rời xa Lồng Ngực nữa. Nhưng… Nó lại đã loạn nhịp, lồng lên như ngựa phi khi nghe tiếng bước chân của Gã ấy đến gần.